Tuesday, 17 July 2018
Văn Hóa

Đốt vàng mã cho ông bà tổ tiên: Đâu mới là nguồn gốc thực sự của một hủ tục?


Đốt vàng mã vẫn là đề tài gây ra nhiều tranh cãi trong suốt khoảng thời gian vừa qua. Một việc tưởng như rất nhỏ nhưng lại chính là thể hiện ra văn minh và trí tuệ của con người. 

Nguồn gốc và quá trình phát triển của vàng mã

Người Việt nói riêng và người Á Đông nói chung đều rất coi trọng cội nguồn, gia tộc. Đó đã trở thành truyền thống ăn sâu vào tâm linh mỗi người. “Cây có cội, nước có nguồn, con người ta có tổ tiên”, hay “Uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống ăn sâu vào tâm linh mỗi người.

Do đó, thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ đã được duy trì từ ngàn đời nay, thành mạch chảy tâm linh trong mỗi người. Dù trong lịch sử đã xảy ra vô số kiếp nạn muốn xóa đi cái văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt. Nhưng sức sống mạnh mẽ của nó đã vượt qua tất cả mà đến được đến ngày hôm nay.

Những dịp lễ Tết, Nguyên tiêu, Thanh minh, Vu lan, Giao thừa và những ngày giỗ chạp, con cháu thường sắp mâm cỗ, chút hương hoa, thành kính thắp nén hương, tưởng nhớ công ơn tiên tổ, thường có lời: “Con có sắp chút lễ mọn, gọi là chút lòng thành, kính dâng lên ông bà tổ tiên”.

Trong xã hội, mọi người thường “xa mặt cách lòng”, nhưng đối với ông bà tổ tiên cách chúng ta rất nhiều đời, rất xa thì vẫn gần gũi vì quan niệm “Tổ tiên tuy xa, thờ phụng không thể không thành kính”.

Các nước Á Đông đều chung quan niệm Nho giáo, nên cũng giống nhau ở việc coi trọng thờ tế ông bà tổ tiên, Thần linh. Khổng Tử nói: “Tế như tại, tế Thần như Thần tại”, nghĩa là cúng tế ông bà tổ tiên, phải thành tâm như là có ông bà tổ tiên đang ở đó, cúng tế Thần, phải thành kính như là Thần đang ở đó.

Cúng tế ông bà tổ tiên, phải thành tâm như là có ông bà tổ tiên đang ở đó, cúng tế Thần, phải thành kính như là Thần đang ở đó. (Ảnh: news.zing.vn)

Tín ngưỡng dân gian cũng cho rằng, dương sao âm vậy, nên mới có tục chôn đồ tùy táng cho người chết. Theo sử sách và các tài liệu khảo cổ học thì thời thượng cổ, con người sống đơn giản, thuần phác thuận theo tự nhiên, chưa có tư tưởng phức tạp.

Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa, dạy người dân cách dùng cây cỏ làm dược liệu trị bệnh.

Rồi đến Hoàng Đế cách đây khoảng 4.600 năm phát minh ra chữ viết, dạy dân làm nhà, trồng dâu dệt vải, làm lịch pháp. Cứ như vậy đời sống văn minh tinh thần và vật chất dần dần được phát.

Nhưng khi vật chất xã hội nhiều lên, con người trong xã hội đông lên thì bắt đầu xuất hiện tư tâm, một số người muốn được hưởng nhiều lên, sinh ra sự phân chia giàu nghèo, giai tầng xã hội, có người nắm quyền hưởng thụ, và cũng có người ngày càng nghèo khổ. 

Đến thời Ân Thương cách đây khoảng 3.400 năm, xã hội, kinh tế đã khá phát triển, mọi người theo tín ngưỡng đa thần từ Thượng đế cao nhất đến các thần thấp hơn là thần núi, sông, mưa, gió, sấm…

Đạo đức lúc đó suy sút, vua chúa chuyên quyền, hưởng lạc, bạo hành, xã hội đi vào giai đoạn suy đọa. Đến lúc này tục tuẫn táng khá phổ biến. Các ông vua khi chết đã chôn theo rất nhiều người cùng các đồ dùng và tiền thật, ngọc. Họ còn dùng người và súc vật tế sống Thần.

Đến đời Tần Thủy Hoàng thì đồ tùy táng đã thay người bằng tượng gốm binh mã tùy táng, nhưng vẫn dùng tiền thật, ngọc. Sang đời Hán mới hoàn toàn chấm dứt tệ tuẫn táng, nhưng vẫn dùng tiền thật và ngọc.

Cho đến đời Ngụy Tấn thì mới chuyển sang tiền giấy tùy táng. Lúc này cũng đã xuất hiện tục đốt tiền giấy với sự khởi đầu từ mánh khóe của anh tú tài nghèo họ Vưu, được chân truyền nghề làm giấy nhưng bán không được mới bày kế giả chết 3 ngày.

Khi mọi người đến viếng, chị vợ mới khóc lóc không có tiền lo tang, chỉ có giấy bèn đem ra đốt, thì Vưu tú tài “sống” lại, kể rằng giấy đốt xuống âm phủ thành tiền, anh ta dùng tiền đó hối lộ các Thần ầm phủ nên được cho sống lại trở về.

Cũng có thuyết khác cho rằng, đốt vàng mã là sự biến tướng từ đốt bùa chú của tiểu đạo thế gian (nhánh nhỏ, thấp được coi là từ Đạo giáo).

(Ảnh minh họa: soha.vn)

Đến đời Đường thì đốt tiền vàng đã rất phổ biến với niềm tin là lễ tặng Thần, quỷ. Rồi từ đó lại phát triển rộng ra là đốt trang phục giấy để mặc, Kim Đồng, Ngọc Nữ giấy làm kẻ hầu, tức là hình thức vàng mã ngày nay.

Có thể rút ra một số điểm sau:

  • Tiền giấy (tiền vàng), vàng mã có nguồn gốc từ Trung Quốc.
  • Tiền giấy ban đầu có ý nghĩa tích cực, thay cho tiền thật, nhưng không phải đốt mà làm đồ tùy táng (chôn theo người chết), và dùng để rắc, và treo khi làm lễ. Đến thời Minh thì tồn tại song song đốt và rắc tiền vàng, được Nguyễn Du viết: “Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”.
  • Hàng mã nhà lầu xe hơi, tiện nghi sinh hoạt… đều là thời hiện đại ngày nay mới sinh ra. Và có xu hướng càng ngày càng nhiều đa dạng số lượng chủng loại, và kích thước cũng ngày càng lớn.

Tục chôn người chết từ ban đầu tự nhiên đơn giản thời thượng cổ đến tuẫn táng dã man thời Ân Thương, chấm dứt tuẫn táng từ thời Tần Hán là phát triển của văn minh tinh thần.

Trong đó phải kể đến trước hết là công lao của Tần Thủy Hoàng thiêu hủy các sách bách gia chư tử trong dân gian, và chôn bọn phương sỹ, thuật sỹ – một dạng thầy mo, thầy phù thủy với các tập tục man rợ từ thời Ân Thương – thời thịnh hành của đồng cốt. 

Công lao tiếp theo là Phật giáo truyền bá vào Giao Chỉ (Việt Nam xưa) vào thời Hán, và truyền bá vào Trung Quốc thời Tam Quốc và Nam Bắc Triều.

Trong Phật giáo không có đốt vàng mã thờ cúng, tế lễ. Thêm một công lao nữa là Nho giáo với quan niệm “Tế như tại, tế Thần như Thần tại”, nghĩa là cúng tế ông bà tổ tiên, phải thành tâm như là có ông bà tổ tiên đang ở đó. Cúng tế Thần, phải thành kính như là Thần đang ở đó.

Tức là Nho giáo coi trọng lòng thành, thành tâm, đối với ông bà tổ tiên đã mất, thì thành kính như đối với họ khi còn sống vậy.

Đốt vàng mã Rằm tháng 7: Hai phong tục với ý nghĩa khác nhau

Trong cả năm thì có lẽ lễ Rằm tháng 7 là đốt vàng mã nhiều nhất, nó cũng tiêu biểu nhất cho tập tục đốt vàng mã cho ông bà tổ tiên và vong linh những người đã mất.

Theo truyền thống Phật giáo, Rằm tháng 7 là lễ Vu Lan, là lễ mà người Phật tử báo hiếu cha mẹ. Theo kinh Vu-Lan-bồn, Mục Kiền Liên dùng thần thông thấy mẹ Ngài do làm ác nên khi chết bị làm ngạ quỷ, Ngài không thể cứu được bèn quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ.

Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày Rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó“.

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Kiền Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: “Chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này”.

Theo “Phật thuyết Vu Lan Bồn kinh”, là một bộ kinh Đại thừa, bao gồm một bài giảng ngắn gọn (“pháp thoại”) được cho là bởi Đức Phật Thích Ca dạy đệ tử của Ngài là Mục Kiền Liên cách thực hành đạo hiếu.

Theo đó Phật dạy cách làm thế nào để có được sự giải thoát cho mẹ mình, và cách báo hiếu cha mẹ, những người đã được tái sanh vào cõi âm, bằng cáchcúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn vào ngày rằm tháng bảy, và nhờ lời chư Tăng chú nguyện mà được cứu độ.

Như vậy cúng Rằm tháng 7 (lễ Vu Lan), Phật giáo không đốt vàng mã, chỉ là cúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn vào ngày rằm tháng bảy, và nhờ lời chư Tăng chú nguyện mà được cứu độ.

Cúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn. (Ảnh: pixabay.com)

Các Phật tử và chúng sinh cũng không tự cúng, mà nhờ tăng đoàn, một tập thể người tu luyện có thân thể thanh khiết, cái tâm trong sạch, có đạo hạnh cao niệm chú niệm mới khởi được tác dụng thần thông giải thoát cho người thân ở cõi quỷ được siêu thoát đầu thai vào cõi khác tốt hơn.

Còn phong tục truyền thống dân gian Việt Nam, việc cúng Rằm tháng Bảy bao giờ cũng phải cúng ở chùa (thờ Phật) trước, rồi mới đến cúng tại gia.

Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào ban đêm, khi Mặt Trời đã lặn. Ngoài ra, theo truyền thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong dân gian, ngày này là ngày “Xá tội vong nhân“.

Vậy nên nhiều nhà có mâm cơm cúng trước nhà, để cúng những vong linh bơ vơ không gia đình, còn gọi theo dân gian là “cúng cô hồn, “cúng thí thực” (tặng thức ăn).

Vào ngày này, mọi gia đình đều cúng hai mâm: cúng tổ tiên tại bàn thờ tổ tiên và cúng chúng sinh (cúng thí thực hay cúng cô hồn) ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè (nếu đường rộng), thời gian cúng có thể là vào buổi sáng, trưa hoặc chiều.

Do ảnh hưởng từ tập tục Trung Quốc mà nhiều người Việt cúng gia tiên và cúng cô hồn đều dùng tiền vàng, hoặc cả vàng mã.

Đốt vàng mã hay không – Sự lựa chọn của văn minh và trí tuệ

Từ dữ liệu như trên, chúng ta có thể thấy trong các chính giáo truyền thống Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo không hề có việc đốt vàng mã khi tế lễ, cúng bái.

Tục đốt vàng mã này có nguồn gốc sâu xa từ tín ngưỡng dân gian nguyên thủy, khi con người suy thoái đạo đức từ thời các vua chúa chủ nô, chôn người súc vật sống cùng tài sản, tiền, ngọc cùng với họ khi chết.

Trong quá trình văn minh, ảnh hưởng của 3 chính giáo truyền thống, hủ tục man rợ đó biến đổi sang bớt man rợ hơn, thành đốt vàng mã từ thời Ngụy Tấn.

Từ khi có hủ tục tuẫn táng đến khi kết thúc, nó kéo dài khoảng 1.500 năm. Còn từ khi có tục đốt tiền vàng kéo dài đến nay đã gần 2.000 năm.

Nếu theo tiến trình văn minh của nhân loại thì nó nên được kết thúc từ lâu rồi mới đúng. Trên thực tế cách đây mấy chục năm, hủ tục đốt vàng mã đã không tồn tại, mà nó chỉ mới phát triển trở lại khoảng 20, 30 năm lại đây.

Cách đây mấy chục năm, hủ tục đốt vàng mã đã không tồn tại, mà nó mới phát triển trở lại càng ngày đốt càng nhiều. (Ảnh: ghost.org)

Có điều lạ là một số nhà chùa vẫn cho phép Phật tử, chúng sinh đến đặt lễ và đốt vàng mã. Sự việc phổ biến và tác động xã hội tiêu cực tới mức gần đây Trung ương Giáo hội Phật giáo phải ra văn bản đề nghị các chùa không đốt vàng mã. Nhưng vẫn có chùa chưa thực hiện.

Cũng không lạ khi không có kết quả khi mà các chùa đó, có các vị sư vẫn đứng ra làm lễ, cúng tế giúp Phật tử, chưa kể đến còn giúp Phật tử xem bói, xem tử vi, xem ngày sinh, phong thủy, làm lễ dâng sao giải hạn…

Toàn những tiểu thuật, phương thuật của tiểu đạo thế gian, luôn bị Phật giáo cho là tà đạo thì giờ đây đã du nhập vào một số chùa.

Và trong những Phật tử đi coi bói, xem tử vi, dâng sao giải hạn, cầu tài lộc, cầu bình an đó lại có không ít cán bộ, quan chức trung và cao cấp. Thế thì làm sao mà người dân không mê muội tin theo, làm theo, học theo.

“Thượng bất chính hạ tắc loạn”, để chấm dứt hủ tục đốt vàng mã, bắt đầu từ các vị lãnh đạo tôn giáo, các sư trụ trì, các lãnh đạo, cán bộ các cơ quan công quyền, từ đó mới có thể lan tỏa dần đến người dân.

Như vậy có nhóm người sẽ mất đi lợi ích, liệu họ có cam lòng tự nguyện? Nếu không thì có biện pháp cưỡng chế gì? Những câu hỏi không dễ trả lời. 

Nhưng mỗi chúng ta có thể tự quyết định đốt vàng mã hay không. Hy vọng mọi người xem xét kỹ và có sự lựa chọn sáng suốt của riêng mình. 

Nam Phương

Xem thêm: