Friday, 25 May 2018
Văn Hóa

Cốt cách người xưa: Không chịu khom lưng vì 5 đấu gạo


Đào Tiềm (365–427), tự Nguyên Lượng, hiệu Uyên Minh, người Sài Tang, Tầm Dương (Cửu Giang, Giang Tây ngày nay). Ông là nhà thơ, nhà văn cuối thời Tấn đầu thời Nam Triều. Từng làm chức quan nhỏ, nhưng vì không muốn khom lưng thờ quyền quý, ông bèn từ quan về nhà, ẩn cư núi Nam Sơn, tự khai khẩn, cày cuốc sinh sống. 

Mùa thu năm 405, Đào Uyên Minh sang làm huyện lệnh Bành Trạch gần quê ông. Mùa đông năm ấy, thái thú quận đã cử Đốc Bưu đến huyện Bành Trạch để điều tra tình hình. Đốc Bưu là một tên tiểu nhân thô tục và ngạo mạn, mới đặt chân tới huyện Bành Trạch đã sức quan huyện đến hoạnh hoẹ ra oai với thiên hạ.

Đào Uyên Minh vốn chán ghét thói trịnh thượng hạch sách cấp trên bắt nạt cấp dưới, nhưng ngặt vì không thể từ chối được nên đành phải chạy ra để gặp Đốc Bưu. Các cộng sự của ông thấy vậy vội đuổi theo ngăn lại: “Đại nhân hãy khoan đã, ngài đến chào Đốc Bưu mà mặc thường phục thế này thì còn ra thể thống gì, ngài hãy mau vào thay quan phục và thắt đai lưng tề chỉnh rồi hẵng đi, bằng không mà bị ông ta bắt bẻ thì tự chuốc vạ vào thân”.

Đào Uyên Minh nghe vậy càng thêm ngán ngẩm than rằng: “Tôi thật không thể khom lưng vì 5 đấu gạo”. Nói xong, ông bèn đem dấu ấn đặt lên bàn, viết một lá đơn từ chức rồi rời huyện Bành Trạch về quê.

Đào Uyên Minh về núi Nam Sơn, dựng căn nhà tranh, tự khai hoang cày cuốc trồng trọt sinh sống, an nhiên tự tại, rời xa danh lợi thế tục, tránh xa phiền não thị phi chốn nhân gian, cách ly cõi hồng trần ô trọc. (Ảnh: hermitary.com)

Ông về núi Nam Sơn, dựng căn nhà tranh, tự khai hoang cày cuốc trồng trọt sinh sống, an nhiên tự tại, rời xa danh lợi thế tục, tránh xa phiền não thị phi chốn nhân gian, cách ly cõi hồng trần ô trọc, tâm hồn thoáng đạt, cảnh giới tinh thần siêu thoát, được miêu tả trong bài thơ “Uống rượu – kỳ 5” của ông:

“Cất nhà trong cảnh nhân gian
Ngựa xe chẳng vướng bụi trần vào đây
Hỏi ông sao được như vầy?
Tâm hồn cao viễn, đất này hẹp thôi”.

Xem chuyện người xưa, ngẫm chuyện đời nay, chúng ta mới thấy chuẩn mực đạo đức xưa nay đã thay đổi một trời một vực rồi.

Chữ quan “官” gồm bộ miên “宀” (mái nhà) và hai chữ khẩu “口” (nhân khẩu – tức nhiều người), nghĩa là: Người làm quan che chở cho nhân dân địa hạt mình cai quản.

Xưa nói quan là dân chi phụ mẫu (bậc cha mẹ của dân), câu này hiện nay bị đả kích bóp méo, coi là cưỡi đầu cưỡi cổ dân. Thực ra câu này rất chính xác. Quan xưa như là người cha người mẹ lo cho dân như lo cho chính con cái mình vậy.

Chúng ta ngày ngày lao tâm khổ tứ làm việc, bớt ăn nhịn tiêu cũng là dành tiền đầu tư cho con cái có được chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phát triển tốt nhất theo khả năng của chúng ta. Quan đối với dân mà như cha mẹ đối với con thì mới đúng nghĩa, mới là hết trách nhiệm của bậc dân chi phụ mẫu.

Khi đạo đức, phong khí xã hội tụt dốc, chuẩn mực xã hội đảo điên, đổi trắng thay đen, vàng thau lẫn lộn, thì chốn quan trường cũng không còn trong sạch nữa. Quan trường hiểm ác, kẻ tranh người đấu, kẻ lừa người dối, thì ắt có kẻ a dua xu nịnh, bợ đỡ để leo cao. Khi kẻ ác ở ngôi cao, “thuận theo ta thì sống, chống lại ta thì chết”, thì bậc thanh liêm, tiết tháo, không chịu cúi đầu chỉ có cách từ quan quy viên, trở về với người dân, sống cuộc sống thanh bạch, thuận theo tự nhiên, tuy nghèo khổ nhưng ung dung tự tại: “Tâm hồn cao viễn đất này hẹp thôi”.

Khi kẻ ác ở ngôi cao, “thuận theo ta thì sống, chống lại ta thì chết”, thì bậc thanh liêm, tiết tháo, không chịu cúi đầu chỉ có cách từ quan quy viên, trở về với người dân, sống cuộc sống thanh bạch, thuận theo tự nhiên. (Ảnh minh họa: sangbe.com)

Quan không hiểu rõ bổn phận, không làm hết chức trách của quan, thì họ nghĩ làm quan là để phát tài, để vinh thân phì gia, xa hoa phú quý của gia đình và dòng họ. Họ lại nghĩ đó là rạng danh tiên tổ.

Vẫn chữ quan đó, nhưng bộ miên “宀” (mái nhà) kia không có chỗ cho người dân, lấy nhà thiên hạ làm nhà mình, lấy của dân làm của mình. Hai chữ khẩu “口” (miệng) không phải là lo cho muôn dân nữa mà là quan có hai cái miệng, một cái nói với quan trên thì siểm nịnh bợ đỡ, một cái nói với dân thì đe nẹt, dọa dẫm. Một cái nói với trên thì giả dối, một cái nói với dưới thì lừa bịp, đổi trắng thay đen. Một cái nói với quan trên thì ngọt như mật, nhẹ như tơ, một cái nói với thuộc hạ thì thét ra lửa, hùng hùng hổ hổ như thiên lôi.

Trí thức xưa hành xử theo lời dạy của Mạnh Tử: “Cùng tắc độc thiện kì thân, đạt tắc kiêm thiện thiên hạ” (khi khốn cùng thì tự giữ mình trong sạch, thiện, tốt riêng bản thân mình; còn khi hiển đạt, làm quan thì làm cho cả thiên hạ thiện lên, tốt đẹp lên). Hy vọng xã hội sẽ có cái nhìn chính xác về văn hóa truyền thống, khôi phục lại giá trị đạo đức xưa, sẽ xuất hiện các vị quan thực sự là dân chi phụ mẫu.

Quay trở về với truyền thống, tiếp thu giá trị tinh hoa truyền thống Á Đông mấy nghìn năm văn hiến rực rỡ sẽ là lời giải cho các vấn đề xã hội trong bối cảnh đạo đức suy thoái ngày nay.

Nam Phương

Có thể bạn quan tâm :